Chương 49: Người Giữ Ba Dòng Nước
Nút áo thứ hai cứ trượt khỏi tay Anh.
Cậu đứng sau tấm liếp ở bến, nghe nước từ chiếc áo vừa thay nhỏ xuống chậu. Ngoài kia, người đưa tin vẫn chờ. Anh thử lần nữa, đầu ngón phải run làm nút gỗ gõ vào móng tay.
Dùng tay trái đi, Linh nói. Ông ấy đợi được.
Anh biết.
Cậu đổi tay. Nút áo chui qua ngay.
Lúc bước ra, Anh thấy Kha đã buộc áo ướt bên ngoài túi. Như Ý kiểm lại gói giấy, còn Vân đang nói với người đưa tin rằng đoàn cần chỗ nghỉ sau cuộc gặp. Nara và Lyra chờ ở đầu cầu; đủ sáu người rồi họ mới xuống chiếc thuyền được cử tới đón.
Từ đây, Anh nhìn thấy nơi Hải Chủ ở.
Ba con thuyền lớn nằm trên ba màu nước, mũi hướng về cùng một phía. Không dây neo nào nối chúng với bờ. Mỗi khi một con hơi lệch, khoảng nước giữa chúng lại dài ra, để mái hiên gần đến tưởng chạm nhau vẫn cách một quãng rộng.
Đèn treo dưới cả ba mái. Bóng đèn trên sông trôi ngược chiều thuyền.
“Chúng có bao giờ va nhau không?” Anh hỏi.
Người đưa tin chống sào, tránh một cụm hoa giấy.
“Tôi làm ở đây ba mươi năm. Chưa nghe thấy.”
Anh nhìn những đầu mái đã mòn, thử tìm vết sửa ở chỗ có thể va. Không có. Nhưng một bà đang phơi khăn trên thuyền ngoài cùng vẫn dùng sào đẩy chiếc áo mắc vào dây, hệt người ở bất kỳ bến nào.
Cậu thấy dễ thở hơn một chút.
Chiếc cầu giữa thuyền ngoài và thuyền giữa thiếu hẳn một đoạn.
Người đưa tin bước tới mép. Một miếng ván trồi lên dưới chân ông, nước chảy khỏi hai đầu; tới bước sau, miếng khác lại nổi. Những miếng phía sau chìm đi khi ông rời chân.
Anh dừng trước khoảng trống.
Lời hẹn xem cầu, Linh nhắc.
Anh nhớ. Chỉ không nghĩ sẽ phải đứng trên nó.
Vân đã đi lên. Miếng ván cuối dưới chân cô trượt xuống nước, rồi nổi lại khi Anh đặt giày tới. Cậu bước chậm, để sức nặng dồn hẳn lên chân trước mới nhấc chân sau. Ván cứng, thớ gỗ cọ qua đế; cậu không thấy dây hoặc trục nào ở dưới.
Một con cá có hai chiếc sừng mảnh bơi qua ngang đầu gối.
Anh khựng lại. Nó ngoặt đuôi, cả thân vẫn ở trên mặt sông một quãng, chỉ bóng của nó chìm dưới nước.
“Đi tiếp,” Kha nói sau lưng.
“Con cá ấy vừa—”
“Tôi thấy rồi. Sang bờ hãy nhìn.”
Anh bước nốt. Linh không giải thích con cá, chỉ nhờ cậu ngoái lại khi cả đoàn đã qua. Nó đang rỉa một giọt nước mắc dưới miếng ván cuối, thong thả tới mức cậu muốn ngồi xuống xem cho hết.
Có tiếng người đọc một cái tên phía trong mái.
Một người đàn bà quỳ trước bát nước đặt trên sàn. Bên cạnh bà là chiếc đèn bến bằng đồng, có vết nứt chạy ngang thân. Bà đặt tay lên vành bát, hứa đêm nào bến còn nhận thuyền thì đèn dẫn lối sẽ còn sáng.
Nước trong bát dâng lên, chạm đầu ngón bà.
“Thay kính trước khi gió đổi,” người ngồi đối diện nói.
“Tôi đã đặt thợ.”
“Đừng đợi người ấy hết việc nhà khác.”
Bà cúi đầu, ôm chiếc đèn đứng dậy. Anh nhường đường cho bà, lúc ấy mới nhìn rõ người vừa nói.
Ông già chân trần ngồi trên ghế thấp, áo nâu xắn tới khuỷu tay. Tóc bạc buộc bằng một cọng lau; cần câu ngắn đặt ngang gối, dây thả vào chính cái bát người đàn bà vừa chạm.
Dưới đáy bát có mây đen.
Một tia chớp lóe lên giữa những đám mây nhỏ. Anh nghe tiếng sấm xa, trầm tới mức lòng bàn chân rung theo.
“Hải Chủ Tam Giang,” người đưa tin xướng, rồi lùi sang mép mái.
Anh nhìn từ đôi chân dính bùn của ông lên chiếc cần câu. Cậu đã chuẩn bị tinh thần cho một cái ngai. Chỗ này còn không có ghế cao hơn đầu gối.
“Sáu vị dâng lời trước nước,” người đưa tin nói, chỉ khoảng sàn trước bát. “Quỳ xuống, đặt tay lên vành.”
Vân chưa bước tới.
“Lời chào của khách, hay lời thề của bến?”
“Lời nhận sự bảo chứng của Hải Chủ.”
Anh nhìn người đàn bà ôm đèn đang rời qua cầu. Cậu chưa biết nước sẽ nhận thêm điều gì từ bàn tay mình.
“Tôi có thể chào ông,” cậu nói với Tam Giang. “Nhưng tôi không quỳ để nhận một lời thề chưa hiểu.”
Cần câu đứng yên. Phía sau, tiếng ván dưới chân người đưa tin ngừng cọt kẹt.
Anh vẫn giữ hai chân trên sàn. Nara và Lyra đứng cùng hàng với Kha, Như Ý; không ai bước ra quỳ thay cậu.
“Còn nếu ta không tiếp?” Tam Giang hỏi.
Anh thấy Vân nhìn mình. Cô không trả lời hộ.
“Chúng tôi về bến. Người coi bến vẫn cần hỏi người lái thuyền chuyện tối nay.”
Ông già kéo cần, nhấc khỏi bát một giọt nước tròn đang quẫy.
“Vậy đứng mà kể.”
Anh kể từ lúc đèn quay ngược.
Cậu đặt túi xuống, lấy sổ vẽ thanh đồng, miếng lá dưới đáy thuyền và khoảng nước cả ba thuyền đã thoát qua. Tay trái vẽ chậm; Tam Giang đợi, thỉnh thoảng hỏi cậu đã chạm vào đâu.
“Từ phía trên, nó kéo mũi thuyền xuống sâu hơn,” Anh nói. “Tôi phải xuống dưới.”
“Rồi ngươi làm rách vòng dẫn.”
“Nếu giữ nguyên, thuyền sẽ lật.”
“Ta đang hỏi ngươi đã làm gì.”
Anh ngậm câu đáp tiếp theo, chỉ vào mép lá đồng. Cậu vẽ đường mở ra, ghi vị trí hai ghe. Tam Giang nghiêng đầu nhìn một lúc rồi đặt bát xuống cạnh cuốn sổ.
Mây bão tan khỏi đáy.
Trong bát xuất hiện ba dải màu. Anh cúi gần hơn. Dải xanh chạy quanh một chỗ hõm mà cậu nhận ra ngay, dù không có chiếc thuyền nào ở đó.
“Đoạn nước vừa rồi?”
“Sau khi người của ta đặt dây chắn.”
Một vệt đỏ len vào mép xanh, bẻ ngược rồi biến mất dưới lòng bát. Anh theo nó bằng mắt, muốn tìm chỗ luồng nước bị đẩy về. Nước tràn qua vành bát, chảy thành một vệt tới cạnh sổ. Cậu đặt đầu ngón tay trái vào vệt ấy, thả một sợi Cấu Tuyến rất mảnh.
Cảm giác lạnh vượt khỏi đầu ngón ngay lập tức.
Cậu không còn tìm thấy mép bát. Phía vừa tưởng chỉ sâu một đốt tay bỗng mở xuống hun hút; tiếng mái chèo nổi lên từ bên dưới, rồi một hồi chuông, rồi tiếng người gọi nhau giữa gió. Anh tìm chỗ các đường Mana giao nhau. Mỗi lần tưởng đã chạm, chỗ ấy lại hóa thành một dòng khác, đầy những chuyển động cậu chưa từng thấy.
Rút sợi lại, Linh nói.
Anh thu Cấu Tuyến. Lạnh ngừng ở cổ tay, nhưng tiếng nước vẫn lấn tiếng người đưa tin vừa ho phía sau.
Cậu tì bàn tay lên thớ gỗ khô, đợi hai âm thanh tách ra.
Em thấy gì?
Không đủ để chỉ anh nên chạm đâu. Em muốn nhìn thêm, nhưng không qua tay anh lúc này.
Anh thôi cúi sát bát. Chỗ ngồi của Tam Giang chỉ cách cậu hai bước, bỗng thành một khoảng cậu không biết phải đo bằng gì.
“Ngươi tìm được vết rách nhỏ,” ông nói. “Đừng tưởng phần nước còn lại cũng nhỏ như thế.”
“Có người đổi hướng nó không?”
“Có một luồng trả ngược từ phía Hầm Dẫn Lưu. Ta đã ngăn nó vào bến hội.”
“Ai mở?”
“Ngươi chưa đưa được cho ta cái tên.”
Anh ngẩng lên. Câu trả lời làm cậu khó chịu hơn lời trách vừa rồi.
“Ông giữ cả đoạn sông ấy.”
“Ta giữ được nước. Nước không kể cho ta bàn tay nào đã xoay một cái khóa dưới mái kín.”
Tam Giang gõ móng tay lên vành bát. Ba dải màu tách ra, lại chạy êm cạnh nhau.
Vân mở gói giấy.
“Vậy chúng tôi có một việc khác cần hỏi về Hầm.”
Cô đưa bản ghi tên thuyền và ngày đi, giữ ngón tay ở dòng Như Ý đã chép tại quán trà.
“Thuyền nhận người làm thuê. Khi về chỉ dỡ hàng. Người nhà được bảo rằng họ đổi ca ở bến khác.”
“Người nhà nào?”
“Chúng tôi sẽ hỏi họ trước khi đưa tên. Nhưng tên thuyền và ngày rời bến ở đây.”
Người đưa tin cúi nhận giấy. Tam Giang chưa gật; ông nhìn Vân.
“Các ngươi vừa tới.”
“Và tối nay thuyền suýt chìm vì luồng nước từ cùng một nơi. Tôi chưa nói hai việc có chung người gây ra. Chúng tôi muốn được kiểm.”
“Hầm chuyển nước cho nửa thành phố. Đóng một cửa sai, các ngươi có thể cứu một thuyền rồi làm chìm cả bến.”
Anh nhìn ba màu nước trong bát. Cậu đã phải lặn xuống tận lá đồng để mở được một khe. Những căn nhà trên sông ngoài kia đều đang nổi nhờ thứ cậu vừa thất bại khi thử hiểu.
“Cho chúng tôi xem sổ nhận người, gặp người coi thuyền,” Vân nói. “Và tới các cửa dẫn xuống Hầm.”
“Bến công cộng thì được. Hầm có những cửa của người giữ riêng, cả những phần có trước Vạn Lưu. Ta không hứa mở tất cả.”
“Cho người của ông đi cùng?” Anh hỏi.
“Họ sẽ hỏi bằng tên ta.”
“Người bị hỏi có dám nói không?”
Tam Giang buông cần xuống gối. Ngoài mái, tiếng hát hội đèn vọng tới; một đoạn hát về chiếc thuyền tìm bến, Anh bỏ lỡ câu sau.
Vân đẩy tờ giấy tới thêm một chút.
“Chúng tôi cần được hỏi riêng. Ai chịu làm chứng phải có chỗ tới mà chủ thuyền không gọi họ về được.”
“Người đến phải tự xin ở lại.”
“Và được nói điều ấy trước người coi bến,” cô đáp, “khi chủ thuyền không có mặt.”
Anh nhìn bát nước. Người đàn bà lúc nãy đã quỳ rất sát nó.
Hỏi cả chuyện lời thề, Linh nói. Nếu phải thề mới được trú, mình lại đưa họ tới một điều chưa hiểu.
Cậu hỏi ngay. Tam Giang vuốt sợi dây câu giữa hai ngón tay rồi gọi người đưa tin.
“Nhà trực ở bến này. Người đến xin trú được ở tới khi lời khai được nghe. Không lấy lời thề đổi chỗ ngủ.”
Người đưa tin cúi đầu.
“Còn các ngươi,” Hải Chủ nói, “hỏi trong ngày mai. Có gì thì mang về.”
“Ba ngày,” Vân nói.
Ông nhìn cô.
“Chủ quán còn phải đợi thuyền về núi sáng mai mới chuyển được thư của chúng tôi. Một ngày ở thành phố này đủ cho người giữ sổ nói rằng giấy đang trên thuyền khác. Chúng tôi cần qua đủ những lần đổi thuyền. Và sổ phải cho đối chiếu tại bến, không chuyển chúng tôi đi hết ba dòng chỉ để tìm một trang.”
Tam Giang nhìn những tờ giấy còn quăn mép vì hơi nước. Một giọt trên dây câu rơi xuống, đập vào lòng bát rất khẽ.
“Ba ngày, từ bình minh mai đến hoàng hôn ngày thứ ba.”
Anh vừa định hỏi tiếp thì Vân đặt một ngón tay lên dòng tên thuyền.
“Cả sổ nhận người?”
“Sổ ở bến, sổ hàng qua cửa công cộng. Nơi giữ riêng phải có người giữ cửa chấp thuận. Các ngươi mang được bằng chứng về, ta sẽ nghe cả khi nó gọi tên người ngồi trong nhà ta.”
Tam Giang nhấc giọt nước khỏi lưỡi câu, thả vào bàn tay Vân vừa đưa ra. Nó dẹt lại thành một vảy cá trong suốt.
“Đưa dấu này cho người coi bến. Cổng công cộng nhận nó; cửa riêng không nhận. Không phá cửa, không cắt đường nước. Nếu giao chiến lan tới bến dân, ta sẽ chặn cả các ngươi.”
Vân xoay vảy trong tay, để Anh cùng nhìn.
Cậu nghĩ tới người phụ quán rót tràn chén trà. Ba ngày có thể hết trước khi người ấy kịp biết em mình còn sống hay không. Nhưng từ lúc này, ít nhất đoàn có thể hỏi mà không bị đuổi khỏi bến ngay câu đầu tiên.
“Chúng tôi nhận,” Anh nói.
Qua chiếc cầu chìm nổi lần nữa, Anh giữ mắt ở miếng ván trước chân.
Cậu vẫn nghe được tiếng nước trong bát, dù bát đã ở sau mái. Linh hỏi một lần; cậu đáp âm thanh đang nhỏ dần. Cô cùng cậu đếm những tiếng gót giày thật trên gỗ, tới bờ bên kia thì thôi.
Người đưa tin dẫn họ về quán trà cũ. Như Ý hỏi thuê hai gian trên lầu, xem chốt cửa rồi nhận chìa khóa. Kha và Lyra mang đồ lên trước; Nara đứng đợi bên chân thang trong khi Vân hỏi chủ quán đường tới nhà trực vừa được phép dùng.
Người phụ quán đang rửa chén.
Anh tới bên máng, chờ anh ta đặt chiếc chén xuống mới nói rằng họ đã được hỏi sổ bến trong ba ngày. Người kia lau tay vào vạt áo, nghe hết, rồi nhìn qua vai cậu như tìm thêm ai.
“Có tin gì của em tôi chưa?”
“Chưa,” Anh đáp.
Bàn tay vừa lau khô lại chạm vào nước.
Cậu không kể về con cá có sừng, cái bát chứa bão hay phép mình không đọc nổi. Cậu hỏi người em đã mang theo những gì hôm rời bến.
Người phụ quán kéo một chiếc ghế ra khỏi gầm bàn.
Anh ngồi xuống. Trên lầu, tiếng Kha đặt hành lý chạm sàn vọng xuống; ngoài sông, đèn hội vẫn đi qua từng mái nhà. Vảy cá nằm trong tay Vân khi cô trở lại bàn, sáng lên trên tờ giấy Như Ý vừa mở.
Lần này họ ghi cả tên người đợi ở bến.