Ch 034 — Lưỡi Kiếm Không Cúi
Người chết vẫn bị giữ bằng hai vòng sắt.
Tường Vy ngồi xuống cạnh chiếc cáng, đưa ngón tay luồn giữa cổ tay người ấy và mép khóa. Da đã lạnh. Chiếc vòng còn siết đủ chặt để người coi ngựa phải dùng cả hai tay mới kéo được tấm chăn qua.
“Ai giữ chìa?”
Viên hộ tống đứng bên cột không đáp. Bùn khô đóng tới đầu gối hắn, một bên dây giày đã đứt. Tường Vy ngẩng lên, hỏi lại. Lần này hắn sờ túi rồi chìa ra chùm chìa bằng những ngón tay dính sáp đỏ.
Đây là người thứ ba cô triệu tới điện thẩm tra.
Hai người trước không tới được. Một chiếc xe bị tìm thấy dưới khe, trống cả người lẫn ngựa; người còn lại rời chỗ ở trước khi lính mang lệnh đến. Người nằm trên cáng từng sao lục quân báo của toán truy hồi Đông Vân. Cô đã muốn hỏi ông ta vì sao cùng một lời khai lại có hai đoạn kết.
Mười binh sĩ cô giữ ở trạm vẫn còn sống. Những người chạm tay vào giấy tờ thì lần lượt biến mất.
Tường Vy mở khóa, để cánh tay được nằm thẳng dưới chăn.
“Ông ấy chết lúc nào?”
“Trước khi qua cổng, thưa Nữ Thánh Kỵ.”
“Vì sao?”
“Tự cắn lưỡi.”
Cô nhìn chiếc khăn bị nhét vào miệng người chết. Viên hộ tống cúi đầu thấp hơn.
Người chữa trị của đoàn vừa tới, trên vai còn chiếc túi chưa cài hết. Tường Vy nhường chỗ cho bà, giữ mép chăn khỏi chạm nền chuồng ngựa. Mùi rơm ẩm, phân ngựa và một thứ thuốc ngọt gắt bám vào mặt trong khăn.
“Lưỡi còn nguyên,” bà nói sau khi xem. “Có vết bầm dưới hàm.”
Tường Vy đưa mắt trở lại người hộ tống.
“Ông ấy nói gì trước lúc chết?”
“Xin được tha tội.”
“Tội gì?”
“Hắn không nói.”
Câu trả lời đi ra quá nhanh. Ở trạm, người lính bị thương từng mất rất lâu mới dám chỉ vào phần lời khai mình chưa được đọc. Người trước mặt cô lại nói như đã học thuộc.
Cô rút kiếm.
Ánh trắng trải trên nền ướt, tách bóng chiếc cáng khỏi bóng cột. Những giọt nước dưới chân ngựa bò ra xa lưỡi thép. Con vật giật dây cương; người coi ngựa đưa nó ra sân trước khi Tường Vy đặt mũi kiếm xuống.
Bóng người chết mỏng dần ở phần đầu. Một vệt khác mắc trong đó, như nét mực chưa kịp khô dưới lớp giấy đè. Cô nghiêng lưỡi kiếm cho ánh trắng đi sát mặt đá.
Một bàn tay hiện lên, chỉ từ cổ tay tới các ngón. Nó ép thứ gì nhỏ và tròn qua hai hàm răng đang bị giữ mở. Ánh bạc lóe ở ngón trỏ: mặt nhẫn mang hình tháp gãy của Asterra.
Khuôn mặt người đeo nhẫn không hiện. Tường Vy đợi thêm một nhịp, vệt bóng đã tan vào nước. Nó không trả lời được người ấy đứng ở đâu, ai sai đến, hay người trên cáng đã kêu gì. Cô thu kiếm khỏi nền, để người chữa trị phủ lại mặt người chết.
“Có người cho ông ấy uống thuốc,” cô nói.
Viên hộ tống lùi tới chạm cột.
“Thần chỉ nhận người ở trạm đổi ngựa.”
“Ngươi thấy bàn tay đó?”
Hắn nhìn sang cửa hông.
Viên thư lại của điện vừa đứng ở đó, giữ cuộn lệnh còn nguyên dải sáp. Phía sau là hai lính. Hắn cúi chào Tường Vy, mắt dừng trên thanh kiếm chưa vào vỏ.
“Thi thể phải được chuyển vào trong, thưa ngài. Người hộ tống cũng cần giao lại.”
“Ta đang hỏi.”
“Lệnh ghi không được để hắn tiết lộ quân vụ ngoài phòng kín.”
“Vậy đóng cửa.”
Không ai bước tới cánh cửa. Người thư lại xoay cuộn lệnh trong tay.
Viên hộ tống ôm cổ.
Tường Vy thấy một đường đen nổi lên dưới cằm hắn, thít ngang chỗ mạch đập. Cuộn lệnh kêu sột soạt; dải sáp trên đó đang tự siết thành những vòng nhỏ.
Cô bước qua giữa hai người, lưỡi kiếm hạ xuống.
Cuộn lệnh rời khỏi bàn tay viên thư lại, đứt ngang chỗ sáp. Một vệt trắng giữ hai nửa giấy lơ lửng, tách chúng khỏi nhau trước khi đường đen kịp thít thêm.
“Giữ viên thư lại cho ta,” cô bảo lính của mình.
Người hộ tống khuỵu gối. Cô đỡ gáy hắn bằng tay trái, xoay mặt khỏi nền rồi đưa kiếm qua khoảng tối bên vai. Những sợi đen bật khỏi cổ, quấn lấy thép như tóc gặp lửa.
Máu sẫm rỉ qua môi hắn. Tường Vy giữ lưỡi kiếm cách da một đốt tay, chờ sợi cuối giãn ra mới cắt. Nhiệt ngấm qua chuôi, bỏng vào chỗ tiếp giáp của găng; cô đổi cách cầm, không rút kiếm giữa chừng.
Người hộ tống hít được một hơi, ho đến gập người.
Bà chữa trị đã quỳ cạnh. Tường Vy giao hắn cho bà, quay lại cửa hông. Người thư lại đang bị ghì hai cổ tay; hai lính đi cùng còn đứng nguyên, mắt nhìn hai nửa cuộn lệnh.
“Các ngươi tới nhận nhân chứng,” cô nói. “Đứng sang bên kia cửa. Không ai được mang hắn đi trước khi người chữa trị cho phép.”
Một người lính chậm rãi hạ giáo. Người còn lại nhìn sang rồi làm theo.
Tường Vy tra kiếm, lột chiếc găng nóng khỏi tay. Dưới lớp da, một đường đỏ chạy ngang gốc ngón cái.
“Đó là niêm thệ quân vụ,” viên thư lại nói. “Hắn đã tự đặt tay vào.”
“Và ngươi vừa dùng nó làm gì?”
“Hắn sắp tiết lộ—”
“Ta nghe rồi.”
Cô nhặt hai nửa giấy bằng chiếc găng vừa tháo, đặt riêng lên mặt ghế. Dòng cuối yêu cầu giao người hộ tống còn sống để đối chứng. Bên dưới dòng ấy là phần sáp đã co thành hình một chiếc cổ.
Tường Vy bảo giữ cả ghế lại.
Người hộ tống tên Đạt.
Phải tới lần uống nước thứ hai hắn mới nói rõ được một tiếng. Tường Vy ngồi đối diện, thanh kiếm đặt trên giá thấp cạnh cửa để hắn không phải nhìn nó mỗi lần ngẩng đầu.
Bà chữa trị kéo cổ áo hắn xuống, xem đường đen đã thôi lan rồi ra hiệu chỉ hỏi ngắn.
“Trên đường còn ai chạm vào người sao lục?” Tường Vy hỏi.
Đạt giữ chén sát môi.
“Một người đeo nhẫn. Ở trạm đổi ngựa. Họ bảo ông ấy lên cơn, phải uống thuốc.”
“Ngươi có giữ ông ấy không?”
Chén nước nghiêng đi trong tay hắn.
“Có.”
Tường Vy chờ hắn đặt chén xuống. Cô không nói hắn vô tội. Đạt cũng không xin lần nữa; hắn nhìn đầu gối mình, miệng há ra rồi ngậm lại khi đau.
“Ai đưa cuộn lệnh cho ngươi điểm chỉ?”
Hắn nhìn cửa.
“Vợ và con thần ở khu lò nung phía đông. Nếu thần không về đổi ca…”
Tường Vy kéo tờ giấy trắng tới, đưa than viết thay cho bút có ngòi.
“Chỉ đường. Tên người mở cửa.”
Hắn không cầm ngay. Cô để tay rời khỏi tờ giấy.
“Lời khai của ngươi chưa ra khỏi phòng này. Người của ta sẽ tới đó trước.”
Đạt viết một nét rồi ngừng.
“Con bé sợ giáp.”
Cô gọi hai lính theo mình từ trạm, dặn họ khoác áo ngoài, mang theo người chữa trị phụ và một chiếc xe. Lấy người trước, hỏi hàng xóm sau; không đọc lý do bắt giữ giữa ngõ. Nếu có kẻ chờ ở nhà, đưa cả gia đình ra bằng cửa lò phía sau mà Đạt vừa vẽ.
Hắn đẩy mẩu than ra xa khi nghe tiếng chân họ rời hành lang.
“Thần không sửa giấy,” hắn nói. “Thần mang bản đã sửa đi lấy dấu tay.”
“Ai sửa?”
“Trong phòng giữ bản. Ông ấy không cho thần nhìn. Nhưng người sao lục đã giữ lại một tờ… nói có lệnh của ngài phải giữ đủ.”
Tường Vy nhớ người lính ở trạm: trước khi điểm chỉ, thần chưa được đọc phần đó.
Lệnh của cô đã tới đây. Có người đã làm theo, rồi nằm chết ngoài chuồng ngựa.
Cô nhìn vệt than nơi đầu ngón Đạt tì trên giấy, đợi bà chữa trị gật mới hỏi vị trí phòng giữ bản.
Cửa phòng lưu quân báo có ba lớp sáp.
Người coi kho cầm chìa nhưng không đưa vào ổ. Ông ta chỉ tấm thẻ niêm phong vừa được treo, nói những hồ sơ liên quan tới nguồn Mana nguy hiểm đã chuyển vào diện cấm xem.
“Ai ra lệnh?” Tường Vy hỏi.
“Từ phòng thẩm tra.”
“Trước hay sau lúc có người chết ở sân?”
Ông ta nhìn xuống chìa.
Cô đưa ông xem lệnh giữ các bản khai mình đã đóng dấu ở trạm. Người coi kho đọc tới cuối, liếc viên thư lại đang bị lính dẫn theo sau rồi mới tra chìa vào ổ.
Sáp đỏ sáng lên trước khi chìa quay hết.
Mùi giấy cháy lọt qua khe cửa.
Tường Vy đẩy người coi kho sang cạnh. Kiếm trắng ra khỏi vỏ, cắt liền ba đường sáng đang chạy quanh khung. Cánh cửa bật vào trong; một vòng lửa mỏng đang khép quanh chiếc tủ giữa phòng.
Cô bước qua ngưỡng, đưa kiếm chặn giữa hai đầu vòng lửa.
Tiếng giấy nổ lép bép ngừng lại ở nửa tủ bên phải. Nửa bên kia vẫn cháy. Tường Vy không kéo kiếm đi theo ngọn lửa; cô gọi người coi kho mang những quyển chưa bén ra trước, tự giữ khoảng hở vừa cắt khỏi khép lại.
Ông ta chần chừ trước mép sáng.
“Quyển nào ghi giấy đi qua tay ông?” cô hỏi.
Người coi kho chỉ ngăn dưới cùng.
“Lấy nó.”
Ông ta quỳ xuống, ôm một quyển sổ bọc vải ra ngoài. Hai lính theo sau nhận những tập khác, chuyền qua ngưỡng. Quyển cuối rời tủ, để lộ dấu sáp bên dưới chồng hồ sơ. Tường Vy xoay mũi kiếm chặt đứt nó. Vòng lửa co lại thành một chấm đỏ rồi tắt.
Tro vẫn rơi. Góc găng tay cô dùng kê chuôi đã cháy quăn.
Người coi kho mở sổ trên nền hành lang, giữ những trang còn nóng bằng một miếng gỗ. Tường Vy ngồi xuống cạnh ông.
Phiếu nhận có ngày, tên người giao và dấu đóng của điện. Bên dưới một mục đã bị gạch, vẫn còn đủ chữ để đọc: bản lời khai gửi từ trạm ven đường. Cùng số hiệu ấy xuất hiện lần nữa, muộn hơn, dưới tên bản chỉnh.
“Bản nào được gửi đi?” cô hỏi.
Người coi kho chạm vào dòng sau.
Đạt được đưa tới trên ghế khi người chữa trị cho phép. Hắn chỉ vệt mực lem ở mép một tờ: chỗ tay hắn dính nước sau khi lấy dấu của người lính.
Tường Vy đặt tờ ấy cạnh bản mình giữ.
Có cả câu chuyện đường phép bị phá. Nhưng việc thiếu niên quay lại cứu đoàn Đông Vân đã bị bỏ. Những túi thuốc tìm thấy cạnh binh sĩ thành dụng cụ ép cung; chỗ người lính nói mình không thấy ai đặt thuốc được nối thêm một câu khẳng định chính Lê Anh đã dùng độc để bắt họ phục tùng.
Không phải nét mực nào cũng mới. Có chữ được chép lại cẩn thận tới mức nếu không giữ bản trước, cô cũng chỉ thấy một trang sạch.
“Ông sao lục đưa ngươi tờ nào?” cô hỏi Đạt.
Hắn chỉ một tập mỏng cháy mất góc.
Bên trong là bản kê các chỗ đã sửa, gấp cùng bản lệnh giữ đủ lời khai của cô. Người ấy không kịp mang nó tới điện bằng tay mình. Tường Vy vuốt mép giấy cong lên, không ép phẳng phần đã thành than.
Viên thư lại đứng giữa hai lính, nói những chỗ thêm là kết luận của người thẩm tra.
“Dưới dấu tay của nhân chứng?”
“Để tránh hiểu nhầm tình hình.”
Tường Vy đưa tờ khai cho người coi kho, yêu cầu ghi nguyên câu vừa nói vào biên bản thu giữ. Cô không hỏi tiếp giữa đống tro. Ở đây đã có đủ người nghe; phần còn lại phải được giữ tới một nơi người làm chứng sống được.
Một tập giấy khác mang dấu Asterra. Nó mới hơn các bản lời khai, chưa có nếp gấp sâu. Phiếu kèm ghi nhận từ tuyến bắc trong ca đêm: một nơi trú ở Thung Lũng Độc có mười lăm Android, dùng lõi tự duy trì từ Mana quanh chúng.
Tường Vy đọc lại câu ấy.
Phần sau xin bổ sung tiền dò đường, đo phòng vệ và thu hồi người có thể làm lõi. Chưa có ngày hành quân. Tên Gareth Varen nằm ở cuối yêu cầu.
Đạt nhìn tờ giấy, lắc đầu trước khi cô hỏi. Hắn chưa từng mang bản đó.
Cô để nó sang bên, không lấy lời khai của hắn làm bằng chứng cho một việc hắn chưa thấy.
Những hồ sơ cũ đã bị sửa. Điều ấy không khiến tin mới tự trở thành giả.
Tường Vy từng đi qua một khu phố cháy vì người dựng phép tin mình đã khống chế được nó. Cô nhớ những cánh cửa còn nguyên khóa bên ngoài, người trong nhà không kịp mở. Nếu thứ lõi này mất kiểm soát, ai đứng gần sẽ chịu trước. Nếu các Android thật sự đã được tự do, một lệnh thu hồi cũng có thể biến họ lại thành thứ không được quyền rời đi.
Cô cần gặp họ. Càng đọc, cô càng cần tới đó.
Ngoài hành lang, một đứa trẻ bắt đầu khóc.
Người lính cô sai đi trở về cùng một người đàn bà ôm con. Tà áo họ dính bụi lò; đứa bé chỉ im khi thấy Đạt đưa tay ra. Hắn định đứng, bà chữa trị giữ vai hắn lại. Người vợ ngồi xuống bên ghế, để con chạm vào đầu ngón cha.
“Có người chờ ở cửa trước,” người lính báo nhỏ. “Chúng tôi đi lối ngài dặn. Chưa biết chúng thuộc ai.”
Tường Vy nhìn đôi giày của đứa trẻ. Một chiếc được buộc bằng sợi dây khác màu, thắt nút quá to, giống người buộc đã làm rất vội.
Khi trời sáng, cô trải bản đồ lên chiếc bàn ngoài sân.
Đường tới Thung Lũng Độc đi về phía bắc. Cô có thể mang ít người, đổi ngựa dọc đường. Nhưng trên tờ giấy chỉ có tên vùng và vài nét núi; lối vào nơi ở của mười lăm Android không nằm trên đó.
Trạm bảo hộ của đoàn ở phía tây, nơi cô đã để người giữ mười binh sĩ. Đường vòng qua đèo, đủ rộng cho xe chở người bệnh. Đưa nhân chứng và gia đình tới đó rồi trở về tuyến bắc phải mất hơn một tuần, chưa tính lúc chờ nước qua ngầm hạ xuống.
Đạt chưa đi nổi một quãng sân. Hai lính đưa gia đình hắn về đều phải thay băng; có một vết chém mới trên thành xe. Nếu chia đoàn, cô sẽ tới thung lũng sớm hơn, còn những người vừa được hứa bảo vệ phải trở lại con đường có kẻ đang đợi.
Tường Vy giữ ngón tay trên lối bắc một lúc, rồi kéo về con đèo phía tây.
“Đưa họ về trạm trước.”
Người thư lại riêng của cô ngẩng lên. “Còn lệnh truy hồi?”
“Chưa hủy. Niêm các bản này riêng, gửi thỉnh cầu đình chỉ thu hồi tới nơi cấp lệnh. Gửi bản sao lệnh không được xử tử trước thẩm tra tới bộ chỉ huy Asterra.”
“Người nghĩ họ sẽ chờ?”
“Ta muốn họ phải trả lời vì sao không chờ.”
Người thư lại ngồi xuống chép. Cô ghi thêm tên người phải nhận và yêu cầu hồi báo. Thỉnh cầu chưa phải lệnh đình quân; cô không được tự coi một tờ giấy đang trên đường là những người ở thung lũng đã an toàn.
Tường Vy giao người đưa công văn đi tuyến bắc, giữ bản gốc và nhân chứng trong đoàn mình. Kẻ đã siết niêm thệ bị áp giải riêng, không cùng xe với Đạt.
“Đến trạm rồi ngài đi đâu?” người vợ hỏi khi cô tới xem chiếc cáng.
“Thung Lũng Độc.”
“Để bắt cậu bé ấy?”
Tường Vy nhìn người đàn bà chỉnh lại chăn dưới chân chồng. Cô chưa có câu trả lời đủ để đặt vào tay người khác.
“Để nhìn hắn bằng mắt mình.”
Cô kéo cửa xe khép lại, chừa khe sáng cho đứa trẻ nhìn cha.
Đoàn rẽ về phía tây. Sau lưng, cổng điện thẩm tra còn mở; trên bậc, người coi kho đang đợi nhận bản kê những tập giấy được mang đi. Tường Vy dừng ngựa cho lính trao đủ rồi mới đi tiếp.
Qua đoạn đá xóc đầu tiên, Đạt ho phía sau tấm ván. Tường Vy giữ ngựa chậm cùng bánh xe, để những người trong đó không phải gọi mình quay lại.